* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "SAIGON.DONGHODIENTU.NET", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Hợp thức hoá lao động: 0981.293.005 - 0969.786.635

Đăng kí Hợp đồng cung ứng lao động

1. Hợp đồng cung ứng lao động phải được đăng kí với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

2. Hợp đồng cung ứng lao động có hiệu lực sau khi được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chấp thuận.

Ưu điểm của 36 trong lĩnh vực cưng ứng lao động:

+ Nguồn lao động dồi dào và chất lượng: với uy tín và kinh nghiệm nhiều năm của Sài Gòn trong lĩnh vực cung ứng nhân sự. Sài Gòn luôn là nơi “chọn mặt gửi vàng” của người lao động. chúng tôi chọn lọc và phân nhóm nghành nghề phù hợp và đào tạo cho người lao động về văn hóa doanh nghiệp.

+ Cung ứng kịp thời và đầy đủ: thiếu hụt nhân sự luôn là vấn đề khó khăn của nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp lớn. Sài Gòn luôn cung ứng kịp thời nguồn loa động giúp doanh nghiệp giải quyết vấn đề nhân lực

+ Nguồn lao động đa dạng: Sài Gòn cung cấp nhiều nguồn lao động, lao động phổ thông, nhân viên văn phòng, lao động có kinh nghiệm…

+ Chi phí hợp lý: Là yếu tố quan trọng giúp Sài Gòn được nhiều khách hàng ưu ái lựa chọn. Sài Gòn cam kết mang đến cho khách hàng dịch vụ tốt nhất và chi phí hợp lý nhất

Cung ứng lao động thời vụ

         + Cung ứng lao động trọn gói

         + Cung ứng nhân viên văn phòng

         + Cung ứng nhân viên cấp cao

Chất lượng nguồn lao động được đánh giá qua các yếu tố:

         + Học vấn, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc.

         + Cách cư xử trong môi trường công việc.

         + Chất lượng sản phẩm người lao động đó tạo ra ( không nói đến dây chuyền sản xuất vì dây

           chuyền sản xuất  được tính là mặc định.

         + Số lượng sản phẩm, hay nói cách khác là lượng đạt được trong một mốc thời gian nhất                định.

          + Sự nhạy bén và tiếp thu mô hình sản xuất mới của người lao động
          
Cung ứng lao động là hình thức dịch vụ mang lại nguồn lực cho doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng lao động. Cung ứng lao động sẽ đảm bảo cho quý khách hàng đúng số lượng, chất lượng lao động chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết để vận hành sản xuất trong doanh nghiệp.

Sài Gòn là công ty cung ứng lao động chuyên nghiệp, có khả năng đáp ứng nhanh về số lượng lao động đến các công ty trong một thời gian ngắn. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về cung ứng lao động của Sài Gòn và nắm rõ được những ưu điểm của dịch vụ này đối với các doanh nghiệp hiện nay nhé!

NGUYÊN TẮC CUNG ỨNG LAO ĐỘNG THỜI VỤ:

    Hồng Kim tìm kiếm người lao động, tuyển dụng và ký kết hợp đồng với người lao động
    Hồng Kim cho các doanh nghiệp thuê lại lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp
    Người lao động chịu sự điều hành trực tiếp của Doanh nghiệp bạn.



TRÁCH NHIỆM CỦA HỒNG KIM KHI CUNG CẤP LAO ĐỘNG THỜI VỤ:

    Chúng tôi có trách nhiệm trong việc cung ứng lao động theo yêu cầu của khách hàng
    Ký kết hợp đồng với người lao động, đào tạo về nội quy và các quy định theo yêu cầu của khách hàng.
    Quản lý người lao động và quản lý hồ sơ lao động.
    Thực hiện việc tính và chi trả lương thưởng cho người lao động theo cam kết, thực hiện các trách nhiệm, thủ tục về bảo hiểm bắt buộc và thuế Thu nhập cá nhân theo quy định của pháp luật, khám sức khỏe định kỳ.
    Thực hiện các báo cáo lao động và chịu trách nhiệm về lao động trước pháp luật.
    Hiện nay, Chúng tôi đang cung ứng lao động cho các ngành nghề Sản xuất, Kinh doanh, dịch vụ, thương mại tập trung chủ yếu tại các Khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam.

ĐIỂM KHÁC BIỆT VỀ DỊCH VỤ CỦA HỒNG KIM VỚI CÁC NHÀ CUNG CẤP KHÁC:

    Cung cấp lao động nhanh và đáp ứng được số lượng lớn theo yêu cầu của khách hàng
    Nguồn lao động của Hồng Kim được tuyển chọn đáp ứng yêu cầu công việc của khách hàng, lao động làm việc ổn định/năng suất lao động cao.
    Quy trình vận hành của Hồng Kim chuyên nghiệp và hiệu quả.

BẠN NÊN CHỌN THUÊ LẠI LAO ĐỘNG CỦA HỒNG KIM , BỞI:

    Chủ động nguồn nhân lực và Linh hoạt: Khách hàng sẽ được chủ động trong việc sử dụng nguồn lao động, được tăng/giảm lao động theo tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty, đề nghị Hồng Kim thay thế các lao động làm việc không hiệu quả.

    Tránh các rủi ro về lao động: Khách hàng được quyền yêu cầu đổi lao động và sa thải các lao động không phù hợp hoặc vi phạm nội quy Công ty mà không phải chịu bồi thường hoặc các rủi ro về pháp lý.

    Hiệu quả và giảm chi phí: Doanh nghiệp sẽ không mất thời gian và chi phí vào công tác tuyển dụng cũng như quản trị các thủ tục hành chính về lao động. Kim sẽ thay mặt khách hàng làm việc đó, từ đó giúp khách hàng tập trung vào các công việc cốt lõi về sản xuất kinh doanh, tăng hiệu quả và lợi ích cho khách hàng.

Quý khách có nhu cầu chỉ cần cho chúng tôi biết yêu cầu, Hồng Kim sẽ mang lại những dịch vụ chất lượng và hợp lý nhất, đảm bảo nguồn nhân lực như mô tả của khách hàng.

Trong những năm gần đây, khi Việt Nam tiếp nhận cho hàng loạt các doanh nghiệp sản xuất từ nước ngoài đến. Các doanh nghiệp này cũng đã quen với việc hoạt động của đất nước mình chính là: sản xuất chỉ tập trung vào sản xuất, còn nguồn nhân lực sẽ để cho đơn vị khác đảm nhận. Đơn vị đó được gọi chung là Công ty dịch vụ cung ứng lao động.

Các đơn vị này sẽ tiếp nhận những việc như: Tuyển lao động, ký hợp đồng, đóng bảo hiểm, chịu trách nhiệm với pháp luật về quyền lợi của người lao động,…Tất nhiên, xí nghiệp sản xuất chỉ chuyên tâm vào việc sản xuất mà thôi. Vì thế mà hiệu suất công việc luôn được đẩy lên cao nhất.



    Việc pháp luật Việt Nam thừa nhận hoạt động của dịch vụ này điều này có nghĩa Việt Nam chúng ta đã tiếp nhận nền văn minh tiến tiến nói chung và sử dụng các loại hình dịch vụ nói chung. Tức là chúng ta chỉ cần có nhu cầu thì sẽ được đáp ứng hoàn hảo nhất khi sử dụng các dịch vụ.
    Đối với dịch vụ cung ứng lao động thì đơn vị cung ứng sẽ làm nhiệm vụ cho thuê lại lao động cho các xí nghiệp mà được pháp luật công nhận. Mặc dù người lao động vẫn duy trì với người trực tiếp sử dụng lao động thuê lại. Nhưng người lao động về cơ bản lại chịu sự quản lí của đơn vị cung ứng.

    Tất nhiên, khi làm dịch vụ thì cũng phải có khoản phí cho các dịch vụ. Tùy theo hợp tác giữa 2 bên mà có sự trích phần trăm khác nhau. Có lẽ chính vì điều này, mà người lao động lại có cái nhìn không mấy thiện cảm với đơn vị cung ứng. Đôi khi họ gọi đó là môi giới, nặng hơn họ còn cho là lừa đảo…
    Nói chung, người lao động Việt thực sự chưa có cái nhìn tích cực nhất. Đó chính là nguyên nhân sâu sắc khiến cho bản chất thật của dịch vụ cung ứng lao động bị nhìn nhận theo chiều hướng tiêu cực nhất.

    Công ty cung ứng lao động Sài Gòn là một trong những đơn vị hoạt động trong lĩnh vực cung ứng lao động phổ thông cho các nhà máy sản xuất của Hàn Quốc có mặt trên khắp Việt Nam. Đứng trên cương vị của chúng tôi, nhiều khi chúng tôi cũng gặp rất nhiều những trường hợp “củ chuối” khiến chúng tôi cũng bị rơi vào cảnh “dở khóc dở cười”. Bởi, những trường hợp đó chưa hiểu rõ bản chất thật của dịch vụ cung ứng lao động.

Hi vọng với bài viết này của đơn vị chúng tôi chia sẻ. Về cơ bản luôn mong muốn người lao động có cái nhìn tích cực hơn về những mặt hoạt động của dịch vụ cung ứng. Nhờ đó, mà người lao động sẽ yên tâm hơn và tự tin hơn khi tìm kiếm công việc trong thời đại này tại các công ty cung ứng hiện nay. Bởi bản chất thật của dịch vụ cung ứng lao động là luôn đem đến sự thuận lợi cũng như những lợi ích cho người lao động.

Chính vì sự mới mẻ đó mà bản chất thật của loại hình dịch vụ cung ứng lao động đã bị hiểu lệch lạc và không đúng giá trị bản chất của nó.

    Về cơ bản cung ứng lao động chính là việc cho thuê lại lao động. Tất nhiên, doanh nghiệp làm lĩnh vực này phải có đủ giấy tờ theo pháp luật và được pháp luật cho phép hoạt động theo pháp lí.

Bản chất thật của dịch vụ cung ứng lao động là gì?

    Đối với người Việt Nam chúng ta mà nói, thường là những người lao động chỉ quen làm việc với chính đối tượng ký kết hợp đồng với mình. Tức là chủ doanh nghiệp trực tiếp tuyển lao động cho đơn vị mình. Có lẽ vì thế, mà việc chuyện phải qua một vị trung gian vẫn làm cho người lao động chưa quen. Nhưng với những quốc gia phát triển khác trên thế giới, thì loại hình này cực kỳ phổ biến và khiến người lao động lại rất thích thú những dịch vụ cung ứng lao động.
    Sở dĩ họ thích bởi, chính dịch vụ này đáp ứng được nhiều yêu cầu khách quan và quyền lợi cho chính người lao động hơn. Họ cho rằng: Khi được làm việc với các công ty dịch vụ cung ứng lao động, họ thường dễ chia sẻ hơn. Do đó, công việc sẽ được thuận lợi hơn rất nhiều.
    
    Bản chất thật của dịch vụ cung ứng lao động chưa hẳn ai cũng hiểu hết được ý nghĩa của nó. Chính vì thế, việc cá nhân hiểu nhầm hiểu lệch lạc. Thậm chí là hiểu sai về dịch vụ cung ứng lao động cũng là điều bình thường. Sau đây, Sài Gòn sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về bản chất thật của dịch vụ cung ứng lao động nhé.
Dịch vụ cung ứng lao động là gì?

    Thực chất thì loại hình dịch vụ này mới được pháp luật Việt Nam công nhận trong khoảng vài năm trở lại đây. Có thể nói rằng, lĩnh vực này khá phổ biến với các quốc gia phát triển. Còn với Việt Nam chúng ta có phần còn mới mẻ.
    


    Xuất phát từ yêu cầu trên các doanh nghiệp đã dùng nhiều biện pháp để tuyển dụng nhân sự, sẵn sàng trích một nguồn kinh phí lớn cho tuyển dụng song kết quả vẫn không đáp ứng được yêu cầu.

Công ty Sài Gòn là một trong những đơn vị đi đầu trong việc kết nối giữa người lao động với các doanh nghiệp, nhà tuyển dụng lao động.

Với mục tiêu, quy trình tuyển dụng rõ ràng và có một hệ thống lưu trữ cơ sở dữ liệu lớn về các ứng viên chuyên nghiệp, chúng tôi luôn sẵn sàng cung ứng cho quý Doanh nghiệp những nhân sự tốt nhất trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác , đặc biệt là doanh nghiệp muốn định biên nhân sự thấp nhất.

Hiện nay Sài Gòn đang có lực lượng lao động phổ thông đông đảo sẵn sàng nhận việc tại các doanh nghiệp cụ thể như sau:

Lao đông phổ thông, bốc xếp, thợ lành nghề

    Công nhân bốc xếp.
    Làm công nhân cho các Công ty, Xí nghiệp, nhà xưởng.
    Lao động phổ thông các ngành nghề khác theo yêu cầu...
    Công nhân làm việc tài các công trường xây dựng, bốc xếp.
    Lao động phổ thông làm việc thời vụ, theo giờ, bán thời gian
    Chất lượng lao động tuyển dụng cam kết đảm bảo theo yêu cầu tuyển dụng của khách hàng

Tại sao phải sử dụng dịch vụ cung ứng nguồn nhân lực(dịch vụ thuê ngoài lao động)?

Các doanh nghiệp sẽ nhanh chóng có đội ngũ nhân viên có trình độ thay thế cho những nhân sự vắng mặt trong một thời gian do: ốm đau, nghỉ phép, thai sản hoặc nghỉ khuyết tật, ra đi đột ngột hay do nhu cầu đột xuất hoặc  trong xu hướng Quý công ty muốn mở rộng, phát triển sản xuất mà vẫn muốn định biên nhân sự thấp nhất, hoặc quý công ty có những dự án ngắn hạn, thời vụ, mùa cao điểm sản xuất sản phẩm/ dịch vụ nhưng thiếu lao động. Đồng thời

 - Giảm chi phí lương và chi phí quản lý.

- Giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo.

Giảm rủi ro về tài chính và nghĩa vụ liên quan đến người lao động.

Lợi thế của Sài Gòn trong mảng dịch vụ  cung ứng nguồn nhân lực

    Tối ưu hóa chi phí : Chúng tôi cam kết doanh nghiệp sẽ hài lòng với kết quả đạt đuợc từ chi phí đầu tư vào dịch vụ cung ứng nguồn nhân sự của Sài

Hợp thức hoá lao động

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài muốn gia nhập thị trường Việt Nam nhưng chưa nắm rõ các quy định của luật lao động Việt Nam; doanh nghiệp có đội ngũ nhân sự quá đông mà phòng nhân sự không đủ mạnh để quản lý hết các công việc liên quan hay doanh nghiệp muốn giảm thiểu chi phí quản lý nguồn nhân lực mà doanh nghiệp không có chuyên môn trong đó thì dịch vụ Hợp thức hóa lao động sẽ là sự lựa chọn phù hợp. Cung cấp là hình thức mà trong đó Doanh nghiệp vẫn tự chủ động trong việc tổ chức tuyển dụng ứng viên theo yêu cầu công việc riêng của mình và ủy thác việc ký hợp đồng lao động và quản lý toàn bộ mặt nhân sự
SEO tổng thể SEO tổng thể là chiến lược SEO dựa trên việc tối ưu website, Những từ khóa dài và chi tiết sẽ đánh trúng tâm lý khách hàng hơn, vì vậy lượt tìm kiếm và truy cập cũng cao hơn những từ khóa ngắn. Những từ

Bên cạnh đó, khác biệt với những quan hệ lao động thông thường, thuyền viên là nghề đặc thù đòi hỏi phải có kiến thức và tay nghề cao, cường độ lao động vất vả, chịu ảnh hưởng của môi trường khắc nghiệt, rủi ro giữa muôn trùng sóng gió; các con tàu lênh đênh trên biển còn là đối tượng luôn bị rình rập bởi cướp biển và những tai nạn bất ngờ.

Những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có đường lối chính sách về chiến lược phát triển nguồn nhân lực thuyền viên nhưng vẫn còn những hạn chế trong việc triển khai cụ thể hóa những chủ trương đường lối chính sách đó thành các văn bản dưới luật nhằm tạo động lực cho phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu; cũng như chưa có mục tiêu cho công tác xuất khẩu thuyền viên ở cấp quản lý nhà nước đến các cơ sở đào tạo và huấn luyện hàng hải.

 2.1.Hạn chế trong quy định về trách nhiệm của tổ chức cung ứng lao động là thuyền viên.

Các tổ chức cung ứng thuyền viên ở nước ta hiện nay về cơ bản được phân loại thành hai nhóm chính: (i)Nhóm thứ nhất, bao gồm các doanh nghiệp quy mô, có kinh nghiệm trong công tác xuất khẩu thuyền viên; hay những doanh nghiệp mới thành lập, nhưng khá chuyên nghiệp và có đối tác là những chủ tàu hoặc người quản lý hay khai thác tàu lớn, uy tín, tại các nước tiên tiến, có ngành hàng hải phát triển. (ii)Nhóm thứ hai, là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, có năng lực và tiềm lực hạn chế, với tư tưởng làm ăn ngắn hạn, ít có sự đầu tư, chủ yếu đi gom nhặt cả thuyền viên và đối tác chủ tàu nước ngoài. Các tổ chức này chỉ được hoạt động khi được cấp “Giấy xác nhận phù hợp về tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hàng hải” (gọi chung là giấy xác nhận) – văn bản do Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cấp cho tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải để xác nhận sự phù hợp về tuyển dụng và cung ứng thuyền viên hải theo quy định của MLC[6].

Có thể nhận định, trong quan hệ lao động này, vai trò của các tổ chức cung ứng thuyền viên là rất quan trọng, là cầu nối giữa thuyền viên và tổ chức có nhu cầu sử dụng lao động thuyền viên, là trung gian để đưa thuyền viên đi làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài. Trên thực tế đã có nhiều doanh nghiệp cung ứng thuyền viên, nhất là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, chỉ chú trọng đến lợi nhuận nhỏ trước mắt, mà chưa có định hướng lâu dài, thiếu trách nhiệm với thuyền viên.



Chính điều này là nguyên nhân phát sinh nhiều tranh chấp và gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền lợi của người lao động. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng chỉ mới dừng lại ở quy định về giấy xác nhận, các trường hợp và thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi giấy xác nhận chứ chưa hề có quy định chi tiết về trách nhiệm của tổ chức cung ứng thuyền viên. Ngoài ra cũng chưa có các quy định trong quản lý nhằm tạo ra tính liên kết giữ các bên liên quan đến chuỗi hoạt động xuất khẩu thuyền viên, bao gồm cơ sở đào tạo hàng hải, các trung tâm huấn luyện thuyền viên và các doanh nghiệp xuất khẩu thuyền viên để các bên có thể tìm được tiếng nói chung và phát huy tối đa vai trò của mình.

2.2.Hạn chế trong quy định về kiểm soát tiêu chuẩn, chất lượng thuyền viên được xuất khẩu.

Chất lượng nguồn năng lực thuyền viên xuất khẩu ảnh hưởng rất lớn đến thị phần và năng lực cạnh tranh trên thị trường thuyền viên quốc tế. Tuy nhiên, theo đánh giá chung, chất lượng thuyền viên xuất khẩu của Việt Nam là không đồng đều, tùy thuộc vào cơ sở đào tạo, huấn luyện hàng hải, tinh thần, thái độ đối với nghề nghiệp, trình độ chuyên môn và sự phân công vị trí, cũng như đội tàu mà thuyền viên làm việc[7]. Bất cứ quốc gia nào, nếu thuyền viên không được đào tạo theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ và trực ca cho thuyền viên năm 1978 sửa đổi năm 2010 (STCWW78/2010) thì thuyền viên cũng như những con tàu mang cờ của quốc gia đó phải qua sự kiểm soát ngặt nghèo của các quốc gia tham gia Công ước mới được chấp nhận hoạt động tại quốc gia của họ[8]. Mặc dù thuyền viên Việt Nam đã được tào tạo, huấn luyện và cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn của Công ước này nhưng thực tế vẫn còn nhiều hạn chế.

Hơn ai hết, chính các tổ chức cung ứng thuyển viên sẽ hiểu rõ chủ tàu nước ngoài cần gì nhất ở thuyền viên Việt Nam, nói cách khác các tổ chức này buộc phải nắm bắt rõ nhất những yêu cầu, tiêu chí về năng lực, chất lượng thuyền viên mà các chủ tàu nước ngoài đòi hỏi để có thể đáp ứng tốt nhất. Tuy nhiên, công tác đào tạo, huấn luyện hàng hải hiện nay còn chưa phù hợp, chất lượng đào tạo còn hạn chế, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của các nhà tuyển dụng, nhất là chưa đáp ứng được yêu cầu của các chủ tàu, chưa theo kịp trình độ của các nước trong khu vực, các nước tiên tiến trên thế giới và sự chuyển biến trong xu hướng phát triển của ngành Hàng hải, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa lượng đào tạo tại các cơ sở hàng hải là không đồng đều, vì nhiều nguyên nhân khác nhau như: Chất lượng sinh viên nhập học là khá khác biệt; cơ sở vật chất không đồng bộ; đội ngũ giảng dạy còn nhiều chênh lệch; công tác quản lý sinh viên có sự khác biệt rất lớn giữa các cơ sở; tính liên thông giữa các cấp học bậc học của chương trình và giáo trình đào tạo hàng hải và đặc biệt là sự hạn chế trong quy định về kiểm soát tiêu chuẩn, chất lượng thuyền viên được xuất khẩu.

Hạn chế này xuất phát từ việc chúng ta vẫn chưa kịp thời ban hành và tổ chức thực hiện chưa tốt các văn bản hướng dẫn về chủ trương liên kết đào tạo, bồi dưỡng nhân lực thuyền viên xuất khẩu. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dữ liệu của nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu, một cơ sở vững chắc để quản lý, phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu vẫn chưa được xây dựng đầy đủ. Vì thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu này nên chưa thể xây dựng được chiến lược phát triển thuyền viên xuất khẩu với những lộ trình cụ thể. Từ việc chưa xây dựng được chiến lược phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu, nên công tác quy hoạch và quản lý phát triển nguồn nhân lực này gặp nhiều khó khăn.



Bên cạnh đó, hiện nay, trong các văn bản luật và dưới luật điều chỉnh quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài nói chung và quan hệ lao động thuyền viên nói riêng đều chưa được quy định thành một chế định, một mục riêng trong đó. Sở dĩ cần thiết phải ban hành thành mục riêng vì tầm quan trọng của nó, cũng như tính đặc thù của loại hình lao động này, nó liên quan đến rất nhiều quốc gia, rất nhiều quyền lợi (chủ tàu, người môi giới, người bảo hiểm, thuyền viên). Chính điều này cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác kiểm soát tiêu chuẩn, chất lượng thuyền viên được xuất khẩu.

 3.Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về cung ứng lao động là thuyền viên làm việc trên tàu cá nước ngoài

Về nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp giữa các quy phạm pháp luật trong nước với các quy định của luật hàng hải và tập quán quốc tế về thuyền viên nói chung và thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu đánh cá nước ngoài nói riêng, pháp luật lao động Việt Nam về thuyền viên cần chú trọng tới việc sửa đổi, bổ sung và hệ thống hóa, pháp điển hóa các chế định cơ bản như quy định cụ thể về nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ của thuyền viên Việt Nam khi làm việc trên tàu biển nước ngoài; bảo đảm các điều kiện tối thiểu về chế độ lao động, điều kiện sống và làm việc của thuyền viên; tăng cường công tác quản lý, giám sát hoạt động cung ứng thuyền viên của các tổ chức Việt Nam; định kỳ kiểm soát về điều kiện lao động hàng hải đối với thuyền viên làm việc trên tàu biển nước ngoài; phát huy vai trò của Công đoàn trong việc giám sát chế độ lao động của thuyền viên và đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho thuyền viên Việt Nam khi các quyền và lợi ích đó không đảm bảo theo quy định chung hoặc bị xâm hại.

Sự phù hợp này bao gồm cả luật nội dung và luật hình thức, kể cả các quy phạm pháp luật hay các thỏa thuận giữa các bên[9]. Đây không chỉ là nguyên tắc chung trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về lao động hàng hải đối với thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu đánh cá nước ngoài mà còn là nguyên tắc trong việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về lao động có yếu tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế Việt Nam.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành về cung ứng thuyền Việt Nam làm việc trên các tàu đánh cá nước ngoài, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

 Thứ nhất, về trách nhiệm của tổ chức cung lao động là thuyền viên

Cần quy định chi tiết về trách nhiệm của tổ chức cung ứng thuyền viên, cụ thể nên bổ sung vào Nghị định số 29/2017/NĐ-CP ngày 20 tháng 3 năm 2017 của Chính phủ quy định về điều kiện cơ sở đào tạo, huấn luyện và tổ chức tuyển dụng, cung ứng thuyền viên hàng hải các điều khoản riêng quy định về “Trách nhiệm của tổ chức cung ứng thuyền viên”, với nội dung:

a) Bảo đảm thuyền viên được thông tin về các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng lao động thuyền viên hoặc hợp đồng cung ứng thuyền viên và bảo đảm thuyền viên được kiểm tra hợp đồng lao động của mình trước và sau khi ký. Đồng thời, phải cung cấp cho thuyền viên một bản hợp đồng lao động thuyền viên đã ký và bản sao hợp đồng cung ứng thuyền viên (nếu có);

b) Theo dõi tình trạng việc làm của thuyền viên đã tuyển dụng hoặc cung ứng cho chủ tàu;

c) Thường xuyên cập nhật danh sách tất cả các thuyền viên được tuyển dụng hoặc cung ứng để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra;

d) Thỏa thuận rõ ràng với chủ tàu về các biện pháp bảo vệ thuyền viên không bị lưu lại tại một cảng nước ngoài và việc hồi hương cho thuyền viên, trừ trường hợp thuyền viên bỏ trốn khỏi tàu;

đ) Bồi thường cho thuyền viên các thiệt hại về tài chính mà thuyền viên phải gánh chịu do lỗi của mình hoặc của chủ tàu có liên quan theo hợp đồng lao động của thuyền viên;

e) Giải quyết các khiếu nại liên quan đến hoạt động của tổ chức mình và báo cáo Cục Hàng hải Việt Nam những khiếu nại chưa được giải quyết.

Bên cạnh đó, cần thiết phải quy định rõ hơn về chức năng phối hợp trong chuỗi cung ứng thuyền viên của các cơ sở đào tạo hàng hải, các trung tâm huấn luyện thuyền viên và các doanh nghiệp xuất khẩu thuyền viên nhằm tạo ra tính liên kết giữa các bên liên quan để các bên có thể tìm được tiếng nói chung và phát huy tối đa vai trò của mình.



 Thứ hai, về kiểm soát tiêu chuẩn, chất lượng thuyền viên được xuất khẩu.

Với thực trạng hiện nay, cần thiết phải ban hành các quy định nhằm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu. Đây sẽ là một cơ sở vững chắc để quản lý, phát triển nguồn nhân lực thuyền viên xuất khẩu trong tương lai, góp phần kiểm soát chất lượng thuyền viên hiệu quả hơn, cũng như giảm thiểu các tranh chấp, xung đột phát sinh giữa các bên trong chuỗi cung ứng thuyền viên.

Đồng thời, trong thời gian tới, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung các quy phạm pháp luật về cung ứng thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu đánh cá nước ngoài, cần quy định thành phần riêng trong các văn bản pháp luật sau đây:

Đối với Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015: Quy định thêm trong chương III về thuyền bộ và thuyền viên một phần cụ thể, bao gồm các quy phạm pháp luật thống nhất và xung đột về nội quy làm việc trên tàu biển; quyền và nghĩa vụ của thuyền viên. Quy định hợp đồng tiêu chuẩn thuê thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài.

Đối với Bộ luật Lao động năm 2012: Tại mục 3 về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, cần có các quy phạm xung đột về chế độ lao động theo hợp đồng lao động hàng hải; quy định cơ chế quản lý, giám sát hoạt động xuất khẩu thuyền viên và hỗ trợ thuyền viên Việt Nam làm việc trên tàu biển nước ngoài.

Đối với Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006: Hiện tại, luật này chủ yếu quy định về việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước

Tại sao là chúng tôi?

Hợp thức hoá lao động Hợp thức hoá lao động Hợp thức hoá lao động Hợp thức hoá lao động Hợp thức hoá lao động Hợp thức hoá lao động